Lãi suất của NHNN Việt Nam – câu chuyện thú vị để đọc và nghiên cứu

1. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÀ MỘT TRONG NHỮNG CÔNG CỤ CHỦ YẾU ĐỂ PHỤC VỤ MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ Ở NƯỚC TA (2009)
(TS. TRẦN DU LỊCH – Ủy viên Ủy ban kinh tế, Phó Trưởng đoàn ĐBQH TPHCM, Ủy viên HĐTVCSTCTTQG)
Như đã nói ở trên, nền kinh tế toàn cầu đang bước vào giai đoạn hậu suy giảm và mỗi quốc gia đều đang nỗ lực trong một cuộc chạy đua mới trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn. Đối với nền kinh tế nước ta, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, bài học được rút ra quan trọng là: Sự bất cập của Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều ngang, chủ yếu dựa vào sự tăng vốn đầu tư, sử dụng lao động rẻ, khai thác tài nguyên thô và gia công hàng xuất khẩu…, thể hiện qua các chỉ báo như: hệ số ICOR, VA/GO, cơ cấu hàng xuất khẩu, năng suất lao động, tổng yếu tố của tăng trưởng. Do đó, vấn đề trọng tâm của giai đoạn “sau suy giảm” là: Tổ chức lại nền kinh tế nhằm chuyển nền kinh tế từ tính chất gia công sang sản xuất; tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; chuyển nền kinh tế từ lệ thuộc sang tương thuộc trong quá trình hội nhập nhằm xác lập vị thế của nền kinh tế Viêt nam trong thời kỳ “hậu khủng hoảng” với sự dự báo sẽ diễn ra cuộc chạy đua nhằm thay đổi trật tự kinh tế quốc tế trong quan hệ toàn cầu và khu vực

2. Những công cụ làm giảm hiệu quả của chính sách tiền tệ
15/04/2011- Theo TS. Phạm Thế Anh- TBKTSG
Trần lãi suất và cửa số tái cấp vốn
Công cụ trần lãi suất huy động 14%/năm hay 1,16%/tháng hiện nay không giúp tạo ra được mức lãi suất thực dương, và do đó không làm tăng được các khoản tiền gửi dài hạn để chống lạm phát. Do vậy, nền kinh tế sẽ mắc kẹt ở mức lạm phát cao và lãi suất cao trong thời gian dài.
Việc để mức lãi suất tái cấp vốn ở mức thấp, 11%, 12% rồi 13% trong hai tháng vừa qua, trong khi lãi suất cho vay của các NHTM lên tới xấp xỉ 20% sẽ không ngăn chặn được vấn đề rủi ro đạo đức (moral hazard).

3. “Vòng kim cô” quanh lãi suất cơ bản
Ngày : 17/01/2010 Nguyễn Hoài (VNEconomy)
– Điều 476 của Bộ luật Dân sự: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố”.
– “Mập mờ là vì Ngân hàng Nhà nước dựa vào cơ sở nào để xây dựng và công bố lãi suất cơ bản? Hơn nữa, loại lãi suất này không được dùng để giải quyết mối quan hệ vay mượn thực của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng nên nó không phản ánh được mối quan hệ giữa cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ”
– Mặt khác, lãi suất cơ bản phiến diện ở chỗ chúng đóng vai trò “làm cơ sở” cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh và không thể hiện quan hệ vay mượn trên thị trường, trong khi Ngân hàng Nhà nước cũng chính là một chủ thể trên thị trường. Thực tế, “làm cơ sở” cũng đồng nghĩa với “áp đặt” và đó là điều không dễ chấp nhận khi Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu vào thế giới.
– Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước đã và đang có các công cụ lãi suất khác như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở. Và theo bà Hương, đó là loại lãi suất được hình thành trên cơ sở mục tiêu của chính sách tiền tệ và trên quan hệ có thực, xảy ra hàng ngày giữa Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng.
Bài này gợi ý một vấn đề lớn: Lãi suất nào thực sự được hình thành trên cơ sở mục tiêu của chính sách tiền tệ?

4. Lại chuyện lãi suất cơ bản
13/5/2010- Nguyễn Vân Cầm
Như TBKTSG đã từng nêu ý kiến (Bài “Chung quy vẫn là chuyện câu chữ”, số báo ra ngày 28-1-2010), việc sửa đổi Bộ luật Dân sự sẽ khó khăn vì xã hội nước ta hiện đang dị ứng với nạn cho vay nặng lãi trong người dân; việc bỏ khái niệm lãi suất cơ bản cũng khó được đồng tình vì sẽ bị hiểu sai là Ngân hàng Nhà nước từ bỏ vai trò điều tiết thị trường. Vậy phải làm sao để giải quyết đồng thời các yêu cầu: 1/Duy trì một loại “lãi suất cơ bản” mà Bộ luật Dân sự có dẫn chiếu để ngăn ngừa nạn cho vay nặng lãi; 2/Không để “lãi suất cơ bản” này đẩy hoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng rơi vào bế tắc vì trần lãi suất; 3/Xác định loại “lãi suất cơ bản” đúng nghĩa như các nước khác đang dùng để làm công cụ điều hành tiền tệ?

Cách duy nhất thỏa mãn cả ba yêu cầu này là định nghĩa lại “lãi suất cơ bản” như là lãi suất trung bình của 5 hay 10 ngân hàng thương mại lớn nhất thị trường. Yêu cầu 1/ như thế đã được đáp ứng, ai cho vay quá 150% lãi suất này coi chừng bị phạm tội cho vay nặng lãi mà yêu cầu 2/ cũng không bị ảnh hưởng (không có ngân hàng nào muốn áp dụng lãi suất cao gấp 1,5 lần so với ngân hàng khác). Để thỏa mãn yêu cầu 3/ dự thảo cần định nghĩa lãi suất tái cấp vốn sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế để lãi suất này đóng vai trò như lãi suất “base rate” hay “bank rate” ở Anh, “Fed fund rates” ở Mỹ, và đó chính là lãi suất để điều hành chính sách tiền tệ.

5. Chung quy vẫn là chuyện câu chữ

Cái lãi suất mà các nước công bố chính là lãi suất tái cấp vốn hay lãi suất chiết khấu của Việt Nam, còn lãi suất cơ bản như định nghĩa là không tồn tại ở các nước. Từ một vấn đề câu chữ mơ hồ như thế, lãi suất cơ bản lại đang trói buộc quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, có hại cho việc điều hành kinh tế do gắn với một quy định của Bộ luật Dân sự, không cho phép lãi suất thương mại vượt quá 150% lãi suất cơ bản.

NHNN sẽ tiếp tục đóng vai trò điều tiết thị trường thông qua các công cụ hiện có như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu… hoàn toàn như ở các nước khác. Lúc đó nếu chúng ta muốn giảm dư nợ để kiểm soát lạm phát thì nâng lãi suất tái cấp vốn của NHNN lên, còn muốn đẩy nhanh tăng trưởng tín dụng thì giảm lãi suất này xuống. Đây cũng chính là ý phát biểu của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu tại buổi họp nói trên. Rất mong giới hành chính và lập pháp nước ta nhanh chóng nhất trí một phương cách để tháo gỡ khó khăn cho cả ngân hàng và giới doanh nghiệp.

6. Lãi suất cơ bản: Khó thực hiện
02/03/2010- Bùi Nhơn
Không phạm luật không thể tồn tại?

Hầu hết các hợp đồng cho khách hàng vay của các ngân hàng hiện nay nếu đối chiếu với quy định của Bộ luật Dân sự đều vi phạm. Bởi lẽ với lãi suất cơ bản 8%/năm thì trần cho vay 12%/năm nhưng nếu áp lãi cho vay như vậy thì không ngân hàng nào có thể tồn tại. Bởi hiện tại, ngân hàng huy động tiền gửi với lãi huy động tính trung bình đã 10,499%, nếu cộng thêm các khoản thưởng tiền, khuyến mãi… thì lãi lên 12%-14%/năm. Không cho vay với lãi cao hơn mức này thì ngân hàng lấy tiền đâu để đảm bảo hoạt động cho hệ thống và có lãi cho cổ đông.”

6. Tạp chí kế toán: Ngân hàng nhà nước Việt Nam nên điều hành lãi suất cơ bản bằng khung lãi suất.

Theo thống đốc NHNN Việt Nam, lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay thấp nhất của NHTM đối với khách hàng tốt nhất. Lãi suất cho vay tối đa của mỗi NHTM bằng 150% lãi suất cơ bản. Nhưng, Thống đốc NHNN không nói rõ lãi suất cho vay trên là lãi suất cho vay ngắn hạn hay lãi suất cho vay trung hoặc dài hạn! Ngược lai, các NHTM huy động vốn ngắn hạn (dưới 12 tháng) cao hơn lãi suất cơ bản. Hiện nay, lãi suất tín dụng ngân hàng của Việt Nam cao nhất trong khu vực. Hiệu ứng, những có nhiều tiên không muốn kinh doanh mà gửi tiền vào NHTM lợi hơn. Nhiều DN kinh doanh trì trệ do thiếu vốn mà không vay, vì lãi suất cho vay của NHTM quá cao.

7. VNeconomy: Lãi suất cơ bản: Tăng cũng không ngại? (Hoàng Vũ, 3/2011)
Với cơ chế lãi suất thỏa thuận, lãi suất cơ bản không còn điều chỉnh lãi suất cho vay trên thị trường. Mặc dù Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 có quy định “Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi”, nhưng cũng có cơ chế cho phép “trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác”.

8. Vietstock (02/2011) Nâng lãi suất tái cấp vốn: Liều thuốc đắng nhưng tác dụng kép

NHNN thường công bố 3 lãi suất trên website của mình là Lãi suất cơ bản, Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn. Trước đây Lãi suất cơ bản rất được quan tâm vì nó xác định trần lãi suất cho vay của thị trường. Tuy nhiên, hiện nay công cụ điều hành chính lại là Lãi suất tái chiết khấu và Lãi suất tái cấp vốn.

Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất mà ở đó NHTW áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại (NHTM). Ở Việt Nam, NHNN tái cấp vốn cho các NHTM qua các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay lại dưới hình thức cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn.

Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất được áp dụng cho các nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi .

9. Saga (2008): Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu

10. VEF.vn Đủ loại lãi suất (Nguyễn Vạn Phú : 02/2011)
Bài viết này cung cấp một cái nhìn cụ thể và rõ ràng về các khái niệm lãi suất

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s