Nghiên cứu khoa học sinh viên

Đợt vừa rồi bận quá, nên mình không có thời gian notes một số nghiên cứu thú vị, bạn nào quan tâm có thể dựa trên những gợi ý này và khai trí. Các bạn nào thích vấn đề gì có thể để lại tin nhắn cho mình trên Website (Phía dưới bài viết này), mình sẽ trao đổi cùng. ĐẶC BIỆT, bạn nào thật sự có sự quan tâm và đam mê nghiên cứu, mình sẽ dành thời gian đề cùng bạn trao đổi, không giới hạn là những hướng dưới đây.

Về nghiên cứu khoa học sinh viên, đặc biệt là khối ngành KINH TẾ HỌC, các bạn có thể tiếp cận theo những phương pháp nghiên cứu sau:
1. Với những bạn có sở thích về lượng hóa và đã học Kinh tế lượng, các bạn có thể áp dụng để tìm hiểu về vấn đề quan tâm. (Chủ yếu sinh viên năm 3,4)
Tuy nhiên có 1 điều, các bạn nên chú ý như sau: “Khi xây dựng mô hình như vậy, tác giả phải hiểu “bản chất” nằm sau mô hình này. Đây mới chính là vẻ đẹp của kinh tế học- Kinh tế lượng chỉ là công cụ để tôn vinh cái đẹp này! Và sự sắc xảo của 1 đề tài phụ thuộc vào việc hiểu ý nghĩa nằm sau này. Bất kỳ nghiên cứu nào lạm dụng quá Kinh tế lượng mà bỏ qua bản chất của vấn đề kinh tế thì rất “tai hại” và giống như xác không hồn.
2. Với các bạn không thích tiếp cận theo định lượng (vì tính không chắc chắn của kết quả nghiên cứu định lượng hay vì bất kỳ lý do nào khác) mình nghĩ các bạn nên tiếp cận theo góc nhìn lịch sử hoặc từ kinh nghiệm của các quốc gia khác. Đặc biệt tiếp cận lịch sử từ kinh nghiệm các nước khác là một điều hết sức thú vị đối với một đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên. (Ngoài các bạn năm 3, 4, Cách tiếp cận này rất phù hợp với các bạn năm 1,2 những người đang bắt đầu học cách nghiên cứu).
Quả thật, mình rất thích các bạn sinh viên tiếp cận theo cách 2, bởi các bạn sẽ học được rất nhiều từ đấy.
Quan niệm về định hướng lựa chọn đề tài:
1. Thông thường, nghiên cứu sẽ sử dụng case của Việt Nam để nghiên cứu ví dụ như: Lạm phát ở Việt Nam, hay Kinh nghiệm thu hút đầu tư FDI của Trung Quốc: Bài học cho Việt Nam, …. Có thể gọi là: Ứng dụng lý thuyết vào nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam. Đặc biệt đối với kinh tế học, việc kiểm định các lý thuyết Kinh tế học ở VN là một trong những hướng nghiên cứu thú vị bởi lý do sau: Các lý thuyết của Kinh tế chủ yếu được dựa trên case của US và các quốc gia phát triển nơi mà giá cả chủ yếu được quyết định bởi thị trường tự do, nên khi áp dụng vào Việt Nam sẽ có những độ lệch nhất định. Nếu cứ áp đặt một lý thuyết nào đấy cho tình huống Việt Nam, có thể gây ra những bóp méo nhất định. Bất kỳ lý thuyết nào cũng là một gợi ý nghiên cứu kiểm định thú vị:
Ví dụ: Mối quan hệ lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam? – Liệu có theo mối quan hệ Đường cong Philips không? Nếu không tại sao? Nếu không phải, nên dùng lý thuyết nào giải thích mối quan hệ này?
2. Một hướng nghiên cứu khác, phạm trù rộng hơn, các bạn không cần gò bó vào việc nghiên cứu Việt Nam vì đôi lúc sẽ có những giới hạn về số liệu nghiên cứu nhất định. Những nghiên cứu này thiên về nghiên cứu lý thuyết, khám phá những điều thú vị từ chính lịch sử và kinh nghiệm của các quốc gia để hệ thống thành những điểm chung. Ngoài ra, các bạn có thể dùng những trường hợp của các quốc gia khác để nghiên cứu 1 lý thuyết nào đấy hoặc là kiểm định 1 lý thuyết nào đấy bạn được học (Thông thường là của US).
Một số gợi ý nghiên cứu: Chủ yếu tập trung 2 hướng chính là “Tăng trưởng và Phát triển” và “Chính sách tiền tệ”, vì đây là hai hướng mình thường xuyên nghiên cứu nhất.
I. Nhóm 1: Tăng trưởng và phát triển
Câu hỏi thú vị của nhóm này luôn là: “Những thành phần chính của thực đơn tăng trưởng cao và ổn định là gì?”
Theo Michael Spence (Nobel 2001) trong một cuốn sách gần đây về “Sự hội tụ kế tiếp” đã chỉ ra những thành phần chính gồm có:
1. Thị trường và những động lực của nó: Bài học về kết quả kinh tế nghèo nạn ở các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây là một minh chứng rõ ràng cho tầm quan trọng của thị trường đối với tăng trưởng. Chính thị trường cung cấp tín hiệu giá cả, tạo ra những động lực và định hướng việc phân bổ nguồn lực. Cần phải chú ý rằng: Đừng nhầm lẫn vai trò thị trường ở đây với một niềm tin mù quáng vào thị trường khi mà cho rằng thị trường tự do hoàn toàn là tối ưu. NO- Ngoại ứng, thông tin bất đối xứng là những thất bại rõ ràng của thị trường.
2. Tăng trưởng được quyết định bởi sự thay đổi cấu trúc liên tục. Đây chính là sự phá hủy sáng tạo được đề cập bởi Schumpeter.
3. Bảo vệ con người thay vì công việc: Để có tăng trưởng cao và ổn định đòi hỏi sự thay đổi cấu trúc liên tục. Chính quá trình thay đổi này, dẫn đến việc các hãng “đến và đi” thường xuyên, do vậy người lao động cần có được sự bảo vệ cả về mặt thu nhập lẫn khả năng để tiếp cận các dịch vụ cơ bản trong thời kỳ chuyển đổi. Một chiến lược đơn giản thường được sử dụng là: Bảo vệ người lao động thông qua bảo vệ việc làm cho họ. Đây cũng chính là một trong những động cơ của các chính trị gia, và điều này có thể được thấy khi chính sách được thiết lập để bảo vệ một số ngành tránh khỏi sự cạnh tranh trong và ngoài nước, nhưng chính điều này vô tình làm giảm tiến trình tăng năng suất và tăng trưởng. Do vậy, bảo vệ con người thay vì bảo vệ công việc. Quả thật điều này không dễ thực hiện, đòi hỏi vai trò của giới lãnh đạo quốc gia để đảm bảo: cung cấp hỗ trợ thu nhập trong thời kỳ thất nghiệp, tái đào tạo, và trợ cấp để tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế và các dịch vụ cơ bản khác. Dẫu biết rằng đây là một sự thay thế ko hoàn hảo nhưng điều này sẽ tạo ra cơ sở để có một sự phát triển dài hạn.
4. Đầu tư và tiết kiệm: Tiết kiệm thấp- Ko đủ để đầu tư – Dẫn đên tăng trưởng thấp – do vậy tiết kiệm thấp. Vòng luẩn quẩn đói nghèo.
5. Đầu tư công: Giáo dục và cơ sở hạ tầng
6. Nhu cầu dịch dưỡng cho trẻ em: Trẻ em không được cung cấp đủ dinh dưỡng cần thiết sẽ chậm tiếp thu những kỹ năng cần thiết trong học tập và công việc. Về dài hạn, gây ra những tác động tiêu cực vào năng suất và tăng trưởng của quốc gia.
7. Tái phân bổ những nguồn lực ko được sử dụng đúng mức
8. Đô thị hóa
9. Tính bao gồm và tính bình đẳng: Đây được rút ra từ chính kinh nghiệm của Ấn Độ. (1) Tất cả mọi người nên có được tiếp cận với những cơ hội được tạo ra từ chính tăng trưởng; (2) nên có những giới hạn về tỷ lệ bất bình đẳng trong thu nhập và trong khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản.
Bất kỳ khía cạnh nghiên cứu nào trên đây cũng thú vị, và đều có thể “khai phá” trong nghiên cứu. Nhắc lại, có 2 phương pháp nghiên cứu chính: (1) Kinh nghiệm lịch sử của các quốc gia đã đạt được mức tăng trưởng cáo và ổn định trong thời gian dài; (2) Nghiên cứu định lượng.
Hướng tiếp cận thứ nhất: Lịch sử và kinh nghiệm – Có thể dựa vào các cases sau (tăng trưởng 7% mỗi năm trong một thời kỳ dài):
+ Nhật Bản (1950-1983, Thu nhập bình quân đầu người (TNBQDN) từ: 3.500- 39.600 (US dollar 2000)
+Singapore (1967-2002, TNBQDN 2.200-25.400)
+ Dai Loan (1965-2002, TNBQDN: 1.500-16.400)
+Han Quoc (1960-2001, TNBQDN: 1.100-13.200)
+ Hong Kong (1960-1997, TNBQDN: 3100-29.900)
+ Brazil (1950-1980, TNBQDN: 960-4000)
+ Malta (1963-1994, TNBQDN: 1.100-9.600)
+ Trung Quốc (1961-2005, TNBQDN: 105-1400)
….
Từ chính các case này để rút ra các bài học và sau đó so sánh với thực tế ở Việt Nam. Ví dụ điển hình là:
+ Tiết kiệm và đầu tư: Ở các nước này, đầu tư chiếm bao nhiêu tỷ trọng GDP, tiết kiệm chiếm bao nhiêu tỷ trọng GDP. Từ đấy so sánh với Việt Nam
+ Tương tự với giáo dục và cơ sở hạ tầng
+ Tốc độ đô thị hóa diễn ra như thế nào?
+ Sự thay đổi cấu trúc kinh tế ở các quốc gia này diễn ra như thế nào?
+ Bao nhiêu phần trăm thu nhập dành cho thức ăn?
+ Chú ý liên hệ các chính sách liên quan của các quốc gia này?
+ Kinh nghiệm Ấn độ về tính bao gồm?
*** Chỉ nên chọn một trong các vấn đề trên để nghiên cứu, như vậy nghiên cứu mới thật sự sâu và chất.
– Hướng tiếp cận nghiên cứu 2: Nghiên cứu định lượng, sẽ bị giới hạn hơn vì dữ liệu nghiên cứu. Tuy nhiên những nghiên cứu có thể gồm:
+ 1% tăng lên trong đầu tư cho giáo dục sẽ làm GDP tăng lên bao nhiều phần trăm?
+ 1% tăng lên trong đầu tư cơ sở hạ tầng sẽ làm GDP tăng lên bao nhiều phần trăm?
+ Số nhân đầu tư ở VN là bao nhiêu?
+ Tác động của giáo dục tới thu nhập? 1 năm tăng thêm trong giáo dục sẽ làm thu nhập tăng bao nhiêu?
Đây là những câu hỏi hết sức thú vị, có thể chạy mô hình cho nhiều quốc gia và so sánh kết quả với Việt Nam. Việc xây dựng mô hình nên dựa trên một framework từ các nghiên cứu ở các nước khác, có một vài điều chỉnh cho Việt Nam. Thông thường hay sử dụng OLS, tuy nhiên cần chú ý các giả định khi sử dụng. Ngoài ra có thể sử dụng: 2SLS hoặc GMM

II. Nhóm 2: Chính sách tiền tệ.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như những bất ổn kinh tế Việt Nam gần đây mở ra cho những cuộc tranh luận về chính sách tiền tệ rất thú vị. Và đây là một trong những hướng nghiên cứu, mình rất thích, chủ yếu thiên về việc sử dụng kinh tế lượng. Trở lại câu chuyện nghiên cứu, có 2 nhóm các bạn có thể quan tâm như sau:
1. Việt Nam
a. Việt Nam: “Lạm phát, lãi suất, tăng trưởng và tỷ giá” trong thời gian qua là những câu chuyện hết sức nóng trong tình hình Việt Nam, tuy nhiên số lượng nghiên cứu vẫn rất hạn chế và “sân chơi vẫn rất rộng cho các bạn quan tâm.
Các nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam chủ yếu sử dụng mô hình VAR để phản ánh các cú sốc tới các chỉ số nền kinh tế. Trong đó mối quan hệ giữa cú sốc thực và cú sốc được tạo ra (innovation) được thể hiện bằng ma trận tam giác Cholesky. Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của việc dùng ma trận này chính là: Không có giả định Kinh tế nào nằm sau ma trận tam giác Cholesky, và các kết quả của Impulse response sẽ phụ thuộc vào việc sắp xếp thứ tự các cú sốc. Do vậy, các kết quả thường không có độ tin cậy cao. Chưa tính đến việc, hầu hết các nghiên cứu đều không chú ý đến kỳ vọng hợp lý về tương lai của các biến. Nếu bạn nào dự định nghiên cứu về tác động của các cú sốc: cung , cầu, tỷ giá đến sản lượng và lạm phát, các bạn nên sử dụng mô hình SVAR để nghiên cứu mối quan hệ. Thay vì sử dụng ma trận tam giác Cholesky, mối quan hệ giữa cú sốc thực và cú sốc được tạo ra sẽ được dựa trên những cơ sở kinh tế. (Xem thêm bài của Phạm Thế Anh về Ứng dụng mô hình SVAR – Search trên Google).
b. Ngoài ra, có thể sử dụng mô hình SVAR cho các nghiên cứu liên quan đến những cú sốc của nền kinh tế, thay vì tác động vào lạm phát và tăng trưởng, có thể nghiêm cứu tác động của nó vào nợ công, đầu tư công,….
c. Ngoài ra , các bạn có thể sử dụng mô hình VECM để nghiên cứu. (Kinh tế lượng Nâng cao)

2. Quốc tế

Khủng hoảng kinh tế thế giới đã khấy đảo giới nghiên cứu kinh tế vĩ mô, trong đó có nhiều quan điểm trái chiều nhau. Mình sẽ đưa ra những vấn đề cơ bản theo một cách đơn giản nhất. Với những bạn có kiến thức có kiến thức nền tốt về kinh tế học, đam mê theo nghiên cứu lý thuyết kinh tế, mình hy vọng những điều gợi ý sau này sẽ mang đến cho các bạn những “tò mò” nhất định để khám phá. Đây là lĩnh vực mình ưa thích nên mình sẽ rất sẵn sàng để hướng dẫn các bạn

Câu chuyện liên quan đến Luật tiền tệ Talor: i(t) = r* + a. [ln y(t) – ln y*] + b. [r(t)-r*].
Trong đó: i(t) là lãi suất tại thời điểm t; r*= lãi suất thực cân bằng; y(t) sản lượng thực tại thời điểm t, y* sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, r(t) = lạm phát tại thời điểm t; r*= lạm phát dài hạn, hoặc lạm phát mục tiêu.
Có 2 quan niệm hiện nay: Một là: “Khủng hoảng chứng minh rằng tầm quan trọng của luật Taylor trong điều hành, chính sự chệch khỏi luật Taylor là một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng” – Hai là: “Chính sách tiền tệ cần phải thay đổi và cần có một mô hình mới”. Mình ủng hộ cho quan điểm thứ nhất, nên mình gợi ý về Luật Taylor để các bạn khám phá ở Việt Nam. Nghiên cứu sẽ xoay quanh trả lời cho những vấn đề sau:
+ Luật Taylor là gì?
+ Ước lượng hệ số a và b cho Việt Nam?
+ So sánh a và b ở Việt Nam và các quốc gia khác

Mình hy vọng những gợi ý nhỏ này sẽ giúp các bạn có những bước đi đầu trên chặng đường chinh phục sân chơi trí tuệ. Nếu có ý kiến trao đổi gì các bạn cứ để lại tin nhắn trên website cho mình (Cuối bài viết này – Leave a comment).

5 thoughts on “Nghiên cứu khoa học sinh viên

  1. e là đàn em của anh ở UEB, em rất hứng thú gợi ý nghiên cứu về luật Taylor của anh.a có thể cho e nick yahoo để a em mình tiện trao đổi ko ạ😀

  2. Em chào anh ạ, em cũng muốn biết thêm về luật Taylor. Anh có thể gửi mail cho em một ít kiến thức cơ bản và ứng dụng của nó được không ạ. Kì sau em cũng định tham gia nghiên cứu khoa học,nên cũng đang tìm hiểu một số vấn đề hơi hiếm 1 chút. em cảm ơn anh ạ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s