Tiền bên trong (Inside money) và tiền bên ngoài (Outside money)

Khi đọc về kinh tế hoặc tài chính bạn có thể gặp hai khái niệm sau:  Tiền bên trong và tiền bên ngoài[1]. Bài viết này nhằm mục đích giải thích hai khái niệm tiền tệ này.

Chúng ta xem xét một nền kinh tế đơn giản như sau:

Một nền kinh tế đóng gồm có : chính phủ, hộ gia đình, và doanh nghiệp. Bảng cân đối tài sản của mỗi thành phần trong nền kinh tế như sau:

1)      Hộ gia đình: Tài sản tài chính bao gồm tiền, trái phiếu và vốn sở hữu doanh nghiệp và không có bất kỳ khoản nợ nào. Do vậy tài sản ròng của hộ gia đình chính là tổng tài sàn sở hữu.

Hộ gia đình

Tài sản

Nợ

Tiền: 50

 

Trái phiếu: 25

 

Vốn sở hữu:  275

 

Tài sản ròng =Tài sản –Nợ= 350

Note: Đơn vị tiền tệ: $- Đồng đô la

2)      Doanh nghiệp: Nguốn vốn của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn chính: trái phiếu và vốn đóng góp của cổ đông. Tài sản của doanh nghiệp gồm có tiền và vốn tư bản. Bởi vì tài sản = nợ nên Tài sản ròng của doanh nghiệp là 0.

Doanh nghiệp

Tài sản

Nợ

Tiền: 100

Trái phiếu: 25

Vốn: 200

Vốn đóng góp: 275

Tài sản ròng= Tài sản –Nợ= 0

Note: Đơn vị tiền tệ: $- Đồng đô la

3)      Chính phủ: Không có tài sản thực, nhưng tại một vài thời điểm trong quá khứ, chính phủ phát hành tài sản tài chính – tiền- để thanh toán cho các khoản chi tiêu. Từ khía cạnh kế toán, tiền thuộc về khoản nợ của chính phủ. Tài sản ròng của chính phủ là -150[2]

Chính phủ

Tài sản

Nợ

 

Tiền:150

 

 

Tài sản ròng= -150

Note: Đơn vị tiền tệ: $- Đồng đô la

Nếu kết hợp giữa khu vực hộ gia đình và doanh nghiệp, ta có bảng cân đối như sau:

Hộ gia đình + Doanh nghiệp

Tài sản

Nợ

Tiền: 150

 

Vốn: 200

 

 

 

Tài sàn ròng=Tài sản –Nợ= 350

Note: Đơn vị tiền tệ: $- Đồng đô la

Chú ý rằng “Trái phiếu và vốn sở hữu/đóng góp” không còn còn xuất hiện trong bảng kết hợp của khu vực tư (hộ gia đình + doanh nghiệp) vì nó chỉ là sự luân chuyễn giữa các thành phần trong khu vực tư với nhau.

Khoản tiền $150 được gọi là tiền bên ngoài. Trước khi đưa ra khái niệm “tiền bên ngoài”, chúng ta cùng xét ví dụ về tiền bên trong như sau.

Giả định chính phủ muốn mua $15 trái phiếu của doanh nghiệp thông qua thị trường mở. Để làm vậy, chính phủ phát hành $15 tiền giấy. Bảng cân đối của các thành phần trong nền kinh tế như sau:

Chính phủ

Tài sản

Nợ

Trái phiếu: 15

Tiền:165

 

 

Tài sản ròng= -150

Note: Đơn vị tiền tệ: $- Đồng đô la

 

Hộ gia đình

Tài sản

Nợ

Tiền: 65

 

Trái phiếu: 10

 

Vốn sở hữu:  275

 

Tài sản ròng=Tài sản –Nợ= 350

Note: Đơn vị tiền tệ: $- Đồng đô la

Doanh nghiệp

Tài sản

Nợ

Tiền: 100

Trái phiếu: 25

Vốn: 200

Vốn đóng góp: 275

Tài sản ròng= Tài sản –Nợ= 0

Note: Đơn vị tiền tệ: $- Đồng đô la

Không có thay đổi trong bảng cẩn đối của doanh nghiệp. Tài sản ròng của hộ gia đình không thay đổi nhưng cấu trúc tài sản thay đổi với sự tăng lên của tài sản tiền từ $50 đến $65 và sự giảm đi của trái phiếu từ $25 xuống $10. Nếu kết hợp giữa khu vực hộ gia đình và doanh nghiệp, ta có bảng cân đối như sau:

Hộ gia đình + Doanh nghiệp

Tài sản

Nợ

Tiền: 165

Trái phiếu: 15

Vốn: 200

 

Tài sản ròng=Tài sản –Nợ= 350

Note: Đơn vị tiền tệ: $- Đồng đô la

Số tiền nắm giữ của khu vực tư tăng lên là: $15 = $165-$150. Đây chính là số tiền được phát hành mới bởi chính phủ và là khoản nợ của khu vực tư đối với chính phủ. $15 này được gọi là tiền bên trong.

Do vậy, một cách đơn giản đơn giản để phân biệt tiền bên trong và tiền bên ngoài là căn cứ vào tài sản nợ trong mối liên hệ với khoản tiền đấy. Tiền bên trong thì được bảo đảm bởi tài sản nợ. Tiền bên ngoài có bản chất sắc lệnh (fiat nature) hoặc được bảo đảm bởi  những tài sản khác mà cung ròng khác không, ví dụ như vàng (Khu vực tư có thể mang $150 đến chính phủ và đổi vàng).

Hoặc có thể hiểu như:

Tiền bên ngoài: khoản tiền ròng mà là tài sản của khu vực tư.

Tiền bên trong: khoản tiền ròng không thuộc tài sản ròng của khu vực tư

Đối chiếu với các thước đo tiền tệ thông thường thì Tiền bên ngoài chính là M0[3]. Và hầu hết tiền trong nền kinh tế hiện đại là tiền bên trong.

Tôi sẽ sử dụng hai khái niệm này để trao đổi về những chỉ trích liên quan đến hiệu ứng Pigou trong bài viết sau.


[1] Dựa trên: Lagos, Ricardo A. Inside and outside money. No. 374. Federal Reserve Bank of Minneapolis, 2006.

[2] Nếu tiền được bảo đảm bởi tài sản thực, ví dụ như vàng, thì giá trị của vàng sẽ được trình bày ở cột tài sản của chính phủ. Tiền được phát hành sẽ được bảo đảm bởi chính phủ để mua lại và đổi ra vàng.

[3] M0: Tiền cơ sở bao gồm (i) dự trữ ngân hàng thương mại (NHTM) tại ngân hàng trung ương (NHTU) và (iii) tiền lưu thông (bao gồm cả tiền dự trữ trong kho của ngân hàng thương mại).

Một số thước đo tiền tệ khác gồm có: M1, M2, M3. Định nghĩa của các thước đo tiền tệ này thường như sau:

  • M1: Tiền lưu thông + tài khoản séc (Chú ý: M1 không bao gồm tiền gửi của NHTM tại NHTU và tiền dự trữ trong kho của NHTM. )
  • M2 = M1 + tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn với giá trị nhỏ  (<$100,000)
  • M3= M2 + tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn với giá trị lớn  (>$100,000)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s